Giá trị của nhã nhạc cung đình Huế là một chủ đề vừa mang tính lịch sử sâu sắc, vừa có ý nghĩa văn hóa to lớn đối với Việt Nam. Nhã nhạc là một thuật ngữ liên quan đến âm nhạc cung đình, xuất hiện ở bốn quốc gia có nền văn hóa tương đồng: Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam. Đây là loại nhạc chính thống của triều đình, được sử dụng trong các lễ tế Giao, tế Miếu và các dịp triều hội, thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa Lễ và Nhạc.
Như vậy, có thể nói rằng từ khi có triều đại phong kiến, Nhã nhạc đã ra đời. Tuy nhiên, Nhã nhạc Việt Nam hình thành rõ nét và được ghi chép sử sách từ thời Lý – Trần, và các triều đại phong kiến tiếp theo đã tiếp tục giữ gìn, phát triển, bổ sung và sáng tạo, làm cho nó ngày càng phong phú và tinh tế. Điều này được minh chứng qua lời của vua Minh Mạng khi trao đổi với quần thần về Nhã nhạc, được ghi lại trong Đại Nam thực lục.
Giá Trị Của Nhã Nhạc Cung Đình Huế Trong Nền Văn Hóa Việt
Hiểu rõ bản chất của Nhã nhạc: Là loại nhạc nghi lễ chính thống, mang tính trang trọng.
Tìm hiểu lịch sử phát triển: Từ triều Lý – Trần đến triều Nguyễn, được ghi chép đầy đủ.
Khám phá giá trị nghệ thuật: Gồm dàn nhạc, nhạc khí, bài bản và ca chương phong phú.
Nắm bắt ý nghĩa văn hóa: Là di sản phi vật thể, thể hiện tinh hoa văn hóa dân tộc.
Tìm hiểu cách bảo tồn và phát huy: Qua các hoạt động biểu diễn, nghiên cứu và giáo dục.
Giá Trị Nghệ Thuật Của Nhã Nhạc Cung Đình Huế
Hệ Thống Dàn Nhạc Phong Phú
Sử sách triều Nguyễn ghi lại có đến 12 cuộc lễ, mỗi cuộc lễ đều có các bài ca chương được ghi chép đầy đủ. Phần nhạc khí được quy định gồm 6 loại dàn nhạc:
Nhã nhạc: Dàn nhạc chính thống, dùng trong các lễ nghi trang trọng.
Nhạc huyền (bộ nhạc treo): Gồm các nhạc khí treo như chũm, chuông.
Đại nhạc (Cổ xúy đại nhạc): Dàn nhạc lớn, dùng trong các buổi lễ lớn.
Tiểu nhạc (ti trúc tế nhạc): Dàn nhạc nhỏ, dùng trong các buổi lễ nhỏ.
Ty chung và Ty khánh (dàn nhạc chuông và khánh đá): Nhạc khí bằng đá và kim loại.
Quân nhạc (đội bả lệnh): Dàn nhạc dùng trong các buổi duyệt binh.
Các dàn nhạc trên đều có các nhạc khí cụ thể và không dưới 30 chủng loại với số lượng trên hàng trăm nhạc khí. Ví dụ, riêng dàn Đại nhạc có đến 42 nhạc cụ thuộc 4 chủng loại nhạc khí của 2 bộ gõ và hơi. Trong đó, bộ gõ thuộc loại màng rung có 20 trống.
Bài Bản Đa Dạng
Về bài bản, Nhã nhạc cũng rất phong phú. Ví dụ, thể loại Tiểu nhạc và Đại nhạc có các bài bản như sau:
Tiểu nhạc có 15 bài bản gồm:
Mười bản ngự (Thập thủ liên hoàn)
5 bản: Ngũ đối thượng, Ngũ đối hạ, Long đăng, Long Ngâm, Tiểu khúc
Đại nhạc có các bài bản:
Tam luân cửu chuyển
Ngũ lôi (Đăng đàn cung)
Đăng đàn cung đơn
Đăng đàn cung kép
Xàng xê
Kèn chiếu
Phú lục
Tẩu mã
Bông
Mã vũ
Man
Kèn bóp (Du xuân)
Cung Nam
Nam Ai
Nam Bình
Nam Trĩ
Tất cả các loại dàn nhạc, các nhạc khí, bài bản âm nhạc, ca chương… đều do những nhạc công, ca công, vũ công tài ba nhất của đất nước thực hiện. Âm nhạc đã trở thành một cặp song sinh với các đại lễ, trở thành tiếng nói huyền diệu, có khả năng giao cảm với trời đất, thần linh, tổ tiên.
Giá Trị Văn Hóa và Tinh Thần
Nhã nhạc Huế – di sản văn hóa âm nhạc “cổ điển bác học Việt Nam” ẩn chứa những nguyên lý cấu trúc, những tư tưởng văn hóa triết lý phương Đông. Trong bút ký Mười ngày ở Huế viết năm 1918, nhà báo Phạm Quỳnh đã ghi lại cảm xúc của mình khi chứng kiến lễ tế Giao:
Giá Trị Của Nhạc Cung Đình Huế – Tạp Chí Sông Hương
“Ngoài sân phường ca hát ca khúc An thành, vừa múa, vừa hát. Đương đêm hơn một trăm con người đồng thanh hát ca, nghe rất cảm động, tưởng thấu đến tận trời cao đất thẳm… cái tấm lòng thành của cả một dân, một nước.”
“Cảnh giao đàn ban đêm như cảnh trong mộng, đèn thắp sáng trong đàn thành từng dãy dọc, dãy ngang, trông xa như một chữ Triện lớn viết bằng những nét chấm sáng mà treo lưng chừng trời. Tiếng đàn, tiếng sáo thì như nước chảy, suối reo, tiếng hát như tiếng thiên thần…”
Rõ ràng là Nhã nhạc, một thể loại của nghệ thuật cung đình Huế, đã đóng góp một phần hết sức quan trọng trên cả 5 lĩnh vực:
Sự hoàn chỉnh của cấu trúc các dàn nhạc
Hệ thống bài bản nhạc không lời hòa tấu
Nhạc đệm cho phần múa hát
Ca khúc trong các loại múa có hát
Các ca chương hát trong các hình thức của buổi lễ
Bảo Tồn Và Phát Huy Giá Trị Của Nhã Nhạc Cung Đình Huế
Sự Công Nhận Của UNESCO
Giữa tháng 12/2003, Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của LHQ (UNESCO) công nhận Nhã nhạc cung đình Huế là di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại. Ngày 31/1/2004 tại Paris, thủ đô nước Pháp, lễ đón Bằng công nhận đã được tổ chức. Đây là lần đầu tiên, Việt Nam có một kiệt tác di sản phi vật thể và truyền khẩu được UNESCO công nhận – một vinh dự to lớn cho cả dân tộc Việt Nam nói chung và Huế nói riêng.
Trước đó, quần thể di tích cố đô Huế đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa vật thể của nhân loại. Với sự công nhận Nhã nhạc cung đình Huế là di sản phi vật thể, một lần nữa Huế lại được tôn vinh, giới thiệu cho thế giới một nghệ thuật đặc sắc mà chỉ một số ít quốc gia có được và giữ gìn đến ngày nay.
Các Hoạt Động Bảo Tồn
Thành phố Huế mang trong lòng hai di sản văn hóa thế giới. Năm 2004, Festival Huế lần thứ 3 (2 năm Huế tổ chức Festival một lần) là Festival tôn vinh Nhã nhạc Huế. Nhiều sân khấu đã tổ chức để trình diễn Nhã nhạc Huế và đều thu được những thành công.
Tuy nhiên, không phải đến Festival Huế 2004, Nhã nhạc Huế mới được thế giới biết đến. Cách đây hơn 45 năm, hai nhạc sĩ Trần Văn Khê và Nguyễn Hữu Ba đã tổ chức ghi âm nhạc cung đình Việt Nam giới thiệu với thế giới. Trong những năm 1990, nhiều đoàn nghệ sĩ của Huế đã ra nước ngoài biểu diễn Nhã nhạc cung đình Việt Nam và đều được đánh giá cao.
Ngày 31/1/2004, GS.TS nhạc sĩ Trần Văn Khê sau khi nghe Nhã nhạc Huế vang lên ở Paris, ông vẫn còn nguyên cảm xúc:
“Tôi cảm thấy rất xúc động bởi vì tiếng đàn, tiếng kèn ngày xưa do các nhạc sư, nghệ nhân cao tuổi biểu diễn. Còn ngày hôm nay cũng tiếng đàn đó nhưng nhạc công lại là những người trẻ tuổi, và khi nhìn những gương mặt trẻ tuổi ấy, tôi như thấy được cả một tương lai và cả sự kế thừa những cái hay mà di sản văn hóa của cha ông để lại”.
Tự Hào Nhã Nhạc Cung Đình Huế – Một Trong Những Di Sản Văn Hóa …
Nhận thấy giá trị của Nhã nhạc và ý nghĩa của nó thời đại hiện nay, trước khi Nhã nhạc Huế được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể, một lớp đào tạo Nhã nhạc Huế đã được khai giảng vào tháng 9/1996 tại Trường Đại học Nghệ thuật Huế với 15 sinh viên và lớp học đã thành công tốt đẹp.
Việc bảo tồn, phát huy Nhã nhạc Huế đã được Bộ Văn hóa – Thể thao – Du lịch và tỉnh Thừa Thiên Huế giao cho Trường Đại học Nghệ thuật Huế (nay là Học viện Âm nhạc Huế) và Nhà hát Nghệ thuật Cung đình Huế cùng với các nhà nghiên cứu, nghệ sĩ, nghệ nhân tâm huyết đảm nhiệm. Nhà hát có nhiệm vụ sưu tầm, sưu tra, tập hợp, phục dựng các bài bản, cùng với phương thức trình tấu, hình thức diễn xướng, tổ chức hội thảo về Nhã nhạc.
Biểu Diễn Và Phát Triển
Các kỳ Festival Huế 2004, 2006, 2008, Nhã nhạc Huế trình diễn các lễ tế đàn Nam Giao, lễ tế đàn Xã Tắc, lễ Truyền Lô, lễ thi tiến sĩ Võ, lễ lên ngôi hoàng đế Quang Trung… Nhã nhạc Huế còn được biểu diễn thường kỳ ở Nhà hát Duyệt Thị Đường (Đại nội Huế), Nhà hát Minh Khiêm Đường (Lăng Tự Đức).
Ngày nay, dàn nhạc, bài bản, ca chương, vũ khúc của Nhã nhạc có thể sử dụng ở các hình thức diễn xướng khác nhau trong các dịp như: Festival Huế, lễ hội dân gian, lễ hội Phật giáo, âm nhạc thính phòng, trong các nghi thức ngoại giao, biểu diễn phục vụ khách du lịch, biểu diễn phục vụ nhân dân trong các cuộc đại lễ hoặc tết cổ truyền dân tộc… Như vậy, Nhã nhạc có điều kiện và không gian diễn tấu phong phú hơn rất nhiều so với trước. Nhã nhạc đã trở về với nhân dân, chính vì vậy giá trị nghệ thuật của nó cũng sẽ được giữ gìn, trường tồn và không ngừng được phát huy.
Những Thách Thức Và Hướng Phát Triển
Nhã nhạc cung đình Huế đã được công nhận là di sản phi vật thể của nhân loại, nhưng công cuộc nghiên cứu vẫn còn tiếp tục. Ví dụ như:
Mối quan hệ giữa Nhã nhạc cung đình Việt Nam với Nhã nhạc một số nước trong khu vực
Nghiên cứu để có thể đưa trống đồng và đàn đá là hai loại nhạc khí rất đặc trưng của dân tộc vào “biên chế” của dàn nhạc Nhã nhạc
Vấn đề trang phục nhạc công
Ý tưởng xây dựng được một bảo tàng về Nhã nhạc
Cái khó hiện nay, ngoài kinh phí đã đành, còn có cái khó chung là tư liệu về Nhã nhạc ít ỏi, tản mác; một số nghệ nhân, nghệ sĩ cao tuổi ít nhiều lưu giữ được di sản phi vật thể này “khuất núi” dần. Mặt khác, quan niệm về Nhã nhạc, cũng như phương pháp bảo tồn, phát huy Nhã nhạc vẫn còn có những ý kiến khác nhau. Giải bài toán về mối quan hệ giữa “bảo tồn” và “phát triển” đòi hỏi có sự cẩn trọng và chuyên môn sâu…
Nhã nhạc cung đình Huế là một trong những tài sản vô giá của dân tộc ta. Giá trị ấy đã trường tồn cùng dân tộc và đã được nhân loại tôn vinh. Việc bảo tồn phát huy nó trong xã hội đương đại là công việc rất nặng nề nhưng bước đầu đã thu được những thành quả rất đáng phấn khởi.
eb5investors.vn hy vọng rằng bài viết này đã giúp bạn hiểu rõ hơn về giá trị của nhã nhạc cung đình Huế và tầm quan trọng của việc bảo tồn, phát huy di sản văn hóa phi vật thể này.